元旦書懷
莫 嫌 歲 月 去 逡 巡
且 喜 今 春 賸 昔 春
绿 情 紅 意 一 般 好
人 事 天 时 兩 闘 新
壽 算 称 觞 斟 酒 聖
年 華 僚 我 動 詩 神
踟 蛛 也 薢 占 心 事
先 為 新 年 報 喜 馮 克 宽
Phiên âm : Nguyên Đán thư hoài
Mạc hiềm tuế nguyệt khứ thoan tuần
Thả hỷ kim xuân thắng tích xuân
Lục tình hồng ý nhất ban hảo
Nhân sự thiên thời lưỡng đầu tân
Thọ toán xưng trường châm tửu thánh
Niên hoa liêu ngã động thi thần
Tri thù dã giải chiêm tâm sự
Tiên vị tân niên báo hỷ thần ./.
Phùng Khắc Khoan
Dịch nghĩa :
Chớ hiềm năm tháng cứ dần dà đi mãi
Ta hãy mừng xuân năm nay hơn xuân năm ngoái
Tình cây xanh, ý hoa đỏ tất cả đều tươi tốt
Việc của người, thời của trời hai thứ đua nhau đắp đổi ,
Cất chén lên chúc thọ thường rót rượu thánh
Năm mới lay đùa ta làm động thần thơ
Con nhện cũng hiểu được việc người muốn chiêm bói niềm tâm sự .
Nên đã sớm vì năm mới báo tin vui ./.
Dịch thơ : Nguyên Đán cảm tác
Năm tháng qua đi xuân lại về
Đón mừng thay đổi sắc xuân quê
Tình cây, hoa lá đều tươi tốt
Cảnh vật, đất trời hết taí tê
Nâng chén mừng xuân châm thánh tửu
Mở then đón tết động thần thơ
Nhện giăng chiêm bói niềm tâm sự
Năm mới tin vui sẵn bút đề .
孝
天 經 地 義 植 彝 倫
百 幸 都 從 一 孝 纯
誠 敬 不 忘 心 在 我
始 终 帷 篤 事 乎 親
大 稱 虞 舜 仁 而 聖
達 美 周 公 子 又 臣
亙 古 來 今 同 此 理
嗟 余 何 以 報 萱 椿 馮 克 宽
Phiên âm : Hiếu
Thiên kinh địa nghĩa thực di luân
Bách hạnh đo tòng nhất hiếu thuần
Thành kính bất vong tâm tại ngã
Thủy chung duy đốc sự hồ thân
Đại xưng Ngu Thuấn nhân nhi thánh
Đạt mỹ Chu Công tử hựu thần
Cắng cổ lại kim đồng thử lý
Ta dư hà dĩ báo huyên xuân ./.
Phùng Khắc Khoan
Dịch nghĩa : Hiếu
Hiếu là thiên kinh, địa nghĩa , xây dựng nên luân thường
Trăm đức hạnh đều do lòng hiếu mà ra
Trong tâm ta không lúc nào được quên thành kính
Trước sau dốc lòng phụng thờ cha mẹ
Khen Ngu Thuấn là “đại hiếu” vừa là bậc nhân vừa là bậc thánh
Khen Chu Công là “đại hiếu”vừa là phận con vừa là bầy tôi
Từ xưa đến nay đều chung một lý lẽ ấy
Than ôi ! Ta lấy gì để báo đáp cha mẹ .
Dịch thơ :
Hiếu
Hiếu là cái gốc đạo thường luân
Trăm đức đều do tự hiếu thuần
Thành kính trong tâm luôn mực thước
Phụng thờ giữa dạ trọn mười phân
Chu Công sử sách nêu hiền hiếu
Ngu Thuấn người xưa trọng thánh nhân
Lý ấy ngàn đời chung một lẽ
Báo đền công đức vẹn song thân .
忠
余見當時之士,多随世就功名而迴於忠孝,
因作此二诗以坚其志云
所 貴 乎 臣 識 克 欽 ,
事 君 宜 篤個 忠 心 .
十 份 大 義 神 明 對 ,
一 副 精 誠 天 地 臨 .
伊 烈 格 天 光 往 古 ,
旦 功 映 日柄 來 今 .
當 然 職 分 須 如 許 ,
大 丈 夫 何 富 貴 淫 ? 馮克宽
Dịch nghĩa : Trung
Dư kiến đương thời chi sĩ , đa tùy thế tựu công danh
nhi hốt ư trung hiếu, nhân tác thử nhị thi dĩ kiến kỳ chí văn .
Sở quý hồ thần thức khắc khâm
Sự quân nghi đốc cá trung tâm
Thập phần đại nghĩa thần minh đối
Nhất phó tinh thành thiên địa lâm
Y liệt cách thiên quang vãng cổ
Đán công ánh nhật bính lai câm ( kim)
Đương nhiên chức phận tư như hử
Đại trượng phu hà phú quý dâm .?
Phùng Khắc Khoan
Trung
Ta thấy những người có học thời nay phần nhiều xu thời để nên công danh mà bỏ quên trung hiếu, vì thế làm 2 bài thơ ( Trung, hiếu ) khuyên nên bền chí mới được .
Dịch nghĩa
Cái đáng quý ở kẻ làm tôi là phải biết kính giữ chức phận làm tôi
Thờ vua nên dốc hết lòng trung
Mười phần nghĩa lớn , đối được với thần minh
Một tấc lòng thành , trời đất xét cho được
Sự nghiệp của Y Doãn rực rỡ ngút trời , tỏa sáng đời xưa
Công lao của Chu Công Đán như ánh dương nay còn rạng tỏ
Chức phận đương nhiên là phải như thế
Bậc đại trượng phu sao để cho giàu sang mê hoặc .
Phùng Khắc Khoan
Dịch thơ : Trung
Cao quý bề tôi kính chữ trung
Thờ vua trọng nước tránh mê cung
Mười phần nghĩa lớn thần minh chứng
Một tấc lòng thành trời đất dung
Y Doãn danh thơm luôn mẫu mực
Chu Công gương sáng đẹp vô cùng
Trượng phu khắc cốt điều nhân lý
Chớ đặt giàu sang tới cửu trùng .
聞 杜 鵑 偶 成
一 誰 纔 四
聲 謂 到 時
挽 怨 炎 緘
得 啼 天 默
六 無 便 寂
陽 用 大 無
亨 處 鳴 聲
德壽廋尋 戊子孟夏
明利 奉 笔 詩馮剋宽
V¨n §ç Quyªn ngÉu thµnh
Mậu Tý mạnh Hạ - Thơ
Phùng Khắc Khoan
Tứ thời giam mặc tịch vô
thanh
Tài đáo viêm thiên tiện đại minh
Thuỳ vị oán đề vô dụng xứ
Nhất thanh vãn đắc lục dương
hanh./.
Dịch
nghĩa: Nghe tiếng chim Đỗ
Quyên bất chợt thành thơ
Gần như bốn mùa lặng im không kêu một tiếng
Mùa hè vừa đem tới cái
nắng nực , thì mới kêu
Ai bảo tiếng kêu khắc khoải ai oán ấy
là vô dụng
Một vài tiếng kêu thôi có thể
kéo được sáu tháng dương hanh thông ./.
TiÕng cuèc
Bốn mùa ẩn tịch chốn thinh không
Hè tới bật kêu nắng rực hồng
Ai oán tiếng đời còn hữu dụng
Nao lòng đổi lấy lục dương thông.