Giai thoại về vua Lê Thánh Tông
14-03-2010
Nhân dịp đầu Xuân, Vua Lê Thánh Tông ngự thăm nhà Thái Học (Văn Miếu) lúc về ghé qua chùa Ngọc Hồ ở thôn Thanh Ngô gần đấy.

Tới nơi, Vua thấy cảnh trí u nhã, hoa cỏ xanh tươi, lại nghe tiếng ni cô tụng kinh vang vang trong chùa. Giọng ni cô trong như nước suối, mà du dương uyển chuyển lạ thường, khiến người nghe dường như cũng phiêu diêu trong thế giới cực lạc. Nhà Vua hứng tình, nguồn thơ lai láng, liền đề ngay lên vách chùa hai câu: 

Tới nơi thấy cảnh thấy người,
Tuy vui đạo Phật chưa nguôi lòng trần! 

Rồi nhà Vua lấy hai câu ấy làm đầu đề, bắt các quan tuỳ tùng ngâm vịnh. Lúc ấy, Thân Nhân Trung, một trong hai vị phó soái của "Tao đàn nhị thập bát tú" có thơ vịnh như sau: 

Ngẫm sự trần duyên khéo nực cười
Sắc không tuy bụi, hãy lòng người.
Chày kình một tiếng tan niềm tục
Hồn bướm ba canh lẩn sự đời
Bể ái ngàn trùng mong tát cạn,
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi
Nào nào cực lạc nào đâu tá?
Cực lạc là đây chín rõ mười! 

Vua trao bài thơ cho ni cô xem, ni cô chê hai câu "thực" thiếu ý cảnh và sửa lại rằng: 

Gió thông đưa kệ tan niềm tục,
Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời. 

Nhà Vua khen hay, rồi đưa luôn nàng về cung. Nhưng tục truyền, kiệu đi tới cửa Ðại Hưng thì nàng chợt biến mất. Lấy làm lạ, Vua liền sai dựng ở đó một cái lầu gọi là Vọng tiên lầu để lưu dấu người tiên.

                                                                                             

Tận thu lòng dạ thế gian

 

Nhân dịp đầu năm mới, Vua Lê Thánh Tông ăn mặc giả làm thường dân ra phố chơi để xem xét tình hình dân chúng.

Ði tới đâu nhà Vua cũng thấy la liệt những câu đối ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị, nên trong lòng rất vui thích. Riêng nhà nọ, chẳng treo đèn, kết hoa mà cũng chẳng đối liễn gì hết. Vua rẽ vào hỏi, chủ nhà trả lời rằng:
- Chả nói giấu gì bác, nhà cháu làm cái nghề hèn hạ quá, nên chẳng dám phô phang gì với ai cho thêm tủi!
Vua ngạc nhiên, hỏi:
- Sao lại có nghề gì là nghề hèn hạ?
Chủ nhà thưa:
- Dạ, nhà cháu chỉ chuyên đi mót phân người để bán thôi ạ!
Nghe xong, Vua cười nói:
- Nếu vậy nhà bác đây là sang trọng bậc nhất, mà nghề của bác cũng là vẻ vang bậc nhất. Câu đối của bác nếu dán lên cũng hay bậc nhất, việc gì mà lại kêu là hèn!.
Rồi, Vua lấy giấy bút, đề giùm cho một đôi câu đối như sau:

Ý đất nhung y, năng đảm thế gian nan sự,
Ðề tam xích kiếm, tận thu thiên hạ nhân tâm.

Nghĩa là:

Khoác một áo bào, đảm đang khó khăn thiên hạ
Cầm ba thước kiếm, tận thu lòng dạ thế gian

Khách qua lại, nhìn thấy câu đối ai cũng kinh ngạc xôn xao.



Xin câu đối Cao Bá Quát (*)

 

Hồi Cao Bá Quát đang nghỉ ở nhà. Nhân dân quanh vùng thường rủ nhau đến xin câu đối về dán nhà, nhất là trong dịp Tết. Một hôm có hai người láng giềng cùng đến một lúc, chỉ trước sau mấy bước.

Người đến trước là một anh làm nghề đóng áo quan. Người đến sau là một chị đang có chửa gần ngày sinh. Cao Bá Quát không cần phải nghĩ ngợi lâu, cầm bút viết vào rẻo giấy cho anh thợ áo quan: 

Thiên thiêm tuế nguyệt nhân thiêm Thọ,
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn Ðường. 

Nghĩa là: 

Trời thêm năm tháng, người thêm thọ,
Xuân khắp non sông, phúc chật nhà.

Cao Bá Quát đã khéo dùng hai chữ "Thọ" và "Ðường" để nói đến cái quan tài vì ngày xưa ta quen gọi cái quan tài là Cỗ thọ đường. Anh thợ nghe giảng rõ, vui mừng vái chào đi ra. Ðến chị bụng chửa. Cao Bá Quát nhìn chị hóm hỉnh cười, rồi lấy mảnh giấy khác, viết ngay: 

Thiên thiêm tuế nguyệt, nhân thiêm,
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn. 

Nghĩa là: 

Trời thêm năm tháng, người thêm
Xuân đầy vũ trụ, phúc đầy. 

Như vậy là Cao Bá Quát đã dùng lại câu đối nghĩ cho anh thợ áo quan hồi nãy, chỉ có bớt ở mỗi vế một chữ cuối. Nhưng như thế vẫn nói lên được rất rõ việc chị phụ nữ sắp đẻ (người thêm) và việc hiện tại trước mắt là chị đang có mang vì chữ "phúc" là "hạnh phúc" trùng âm với chữ "phúc" là "bụng"("phúc mãn" là "đầy bụng"  tức là bụng có chửa).


Tác giả ĐT - Sưu tầm