Đến với bài thơ "Tặng Bùi Công", một bài thơ Xuân độc đáo của Nhà thơ Hồ Chí Minh
28-12-2011
Bac Ho ngoi.jpg 

Có một bức ảnh chụp Bác Hồ đang ngồi đọc sách bên cửa sổ nhà sàn, có cây, có núi, dáng vẻ ung dung thư thái…

 

Ở dưới bức tranh có ghi 2 câu thơ "Xem sách chim rừng vào cửa đậu/ Phê văn hoa núi chiếu nghiên soi", trích trong bài thơ "Tặng Bùi Công" Bác Hồ viết trong thời kì kháng chiến chống Pháp ở Chiến khu Việt Bắc. Bài thơ nguyên tác bằng chữ Hán như sau:

Khán thư sơn điểu thê song hãn

Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì

Tiệp báo tần lai lao dịch mã

Tư Công tức cảnh tặng tân thi.

                                           1948

Dịch nghĩa:

Xem sách chim núi đậu ở chấn song (cửa sổ)

Phê công văn, hoa Xuân soi bóng vào nghiên mực

Tin thắng trận báo về liên tiếp làm nhọc con ngựa trạm

Nhớ Cụ, tức cảnh, tặng bài thơ mới.

Dịch thơ:

Xem sách chim rừng vào cửa đậu

Phê văn hoa núi chiếu nghiên soi

Tin vui thắng trận dồn chân ngựa

Nhớ Cụ thơ xuân tặng một bài.

                                                    (Nxb Văn học 1967)

Bài thơ làm vào Xuân 1948, sau chiến thắng Việt Bắc Thu đông năm 1947, để tặng cụ Bùi Bằng Đoàn, nhân sĩ, Trưởng ban Thường trực Quốc hội khóa I.

Đây là bài thơ tứ tuyệt được kết cấu theo mô hình nửa sau của bài thất ngôn bát cú Đường luật nên hai câu đầu đối nhau, vần ở cuối câu 2 và cuối câu 4. Chọn mô hình này thật đắc địa vì 2 câu đầu là cảnh vật mùa Xuân và khung cảnh làm việc của chủ thể trữ tình, hai cấu đối nhau tạo nên sự hài hòa, cân xứng trong cảnh, giữa cảnh và người. Sự hài hòa, cân xứng đó là yếu tố của cái đẹp, nhất là cái đẹp trang nhã cổ kính, có phong vị cổ thi. Giữa cảnh và người có sự hòa quyện, tương ứng, tương cảm. Chim núi, hoa xuân ở đây như cũng có linh hồn và cùng chia sẻ với người tình cảm và công việc, làm cho khung cảnh làm việc của người thêm thơ, thêm đẹp. Chủ thể trữ tình ở đây không hiện ra như một cán bộ cách mạng cao cấp đăm chiêu, tất bật mà như một thi nhân, một trí giả ung dung tự tại, một vị túc nho thanh cao trong cảnh xuân nhàn, nhưng đây chính lại là phong thái của một nhà cách mạng có bản lĩnh, người lãnh đạo chỉ huy một cuộc chiến đấu chính nghĩa, có niềm tin ở sức mạnh tất thắng của sự nghiệp. Người chỉ huy ấy có dáng dấp, có cốt cách "nho gia", thi nhân xưa, kế thừa truyền thống yêu thiên nhiên, gần gũi thiên nhiên của các "tao nhân mặc khách" xưa như Nguyễn Trãi đã từng nghe tiếng suối ở Côn Sơn "như tiếng đàn cầm bên tai", từng "mây khách khứa nguyệt anh tam (em), "cò nằm hạc lặn nên bầu bạn" … nhưng Nguyễn Trãi dù sao cũng có phần "triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải", chứ Bác Hồ của chúng ta thì đang "đuổi giặc" (chữ của cụ Bùi Bằng Đoàn trong bài thơ họa lại bài Tặng Bùi Công của Bác "Việc nước biết Người không chút rảnh/ Trong khi đuổi giặc vẫn làm thơ" (Dịch nguyên tác: "Tri công quốc sự vô dư hạ/ Thao bút nhưng thành thoái lỗ thi"). Vì vậy, hai câu đầu có phong vị cổ thi, nhưng vẫn có những nét khác xưa. Phong thái ung dung của Bác không xuất phát từ đạo trung dung của Khổng Tử hay lẽ "xuất xử" của nho gia mà là cách sống, lẽ sống của người cách mạng vốn đã có từ ngày tháng trong tù (Ngắm trăng…), trong những năm tháng gian khổ trước cách mạng (Tức cảnh Pác Bó, Thượng Sơn…). Mặt khác, tâm trạng của chủ thể trữ tình ở đây còn tràn đầy niềm vui. Nó khác hẳn với mặc cảm buồn thương trong thơ cổ điển: "Đêm nghe tiếng gió mưa/ Hoa rụng nhiều hay ít" (Sáng Xuân của Mạnh Hạo Nhiên), "Gió Xuân không quen nhau/ Việc chi lọt vào màn the" (Xuân tứ - Lý Bạch) "Cây Xuân chẳng biết người đi hết/ Xuân sang vẫn nở những hoa xưa" (Sơn phòng xuân sự - Sầm Tham) hay trong thơ lãng mạn sau này "Xuân đang tới nghĩa là Xuân đang qua..." (Vội vàng- Xuân Diệu) "Đem chi xuân đến gợi thêm sầu" (Xuân - Chế Lan Viên) "Năm nay xuân còn trở lại / Người xưa không thấy tới" (Xuân về- Lưu Trọng Lư)... Chiến thắng Việt Bắc có ý nghĩa chiến lược đập tan âm mưu của thực dân Pháp, định bao vây tiêu diệt đầu não của cuộc kháng chiến; là bước ngoặt của cuộc kháng chiến, đưa cuộc kháng chiến thần thánh của chúng ta từ phòng ngự sang giai đoạn cầm cự để sau này tổng phản công. Chiến thắng này cũng là nguồn cảm hứng lớn lao để tạo nên các tác phẩm văn học nghệ thuật xuất sắc như: Trường ca Sông Lô của Văn Cao trong âm nhạc và nhiều bài thơ, bài văn khác, đặc biệt chùm thơ của Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc như: Nguyên tiêu, Tặng Bùi Công, Báo tiệp, Thu dạ, Tặng Võ Công…

Niềm vui chiến thắng đó đã thể hiện ngay từ đầu bài thơ trong không gian nghệ thuật và tâm thế trữ tình càng thể hiện rõ trong câu thơ chuyển của bài thơ tứ tuyệt "Tiệp báo tần lai lao dịch mã", tin thắng trận liên tiếp báo về làm nhọc con ngựa trạm. Qua nỗi mệt nhọc của con ngựa đi đưa tin thắng trận mà nói lên nỗi vui của con người trước chiến công nối tiếp chiến công. Chi tiết nghệ thuật này đã góp vào sự phong phú của những tín hiệu nghệ thuật về chiến thắng trong thơ Bác: Tiếng kèn du kích trong Thu Dạ, tiếng chuông lầu núi trong Báo tiệp, ánh trăng viên mãn đầy thuyền trong Nguyên tiêu …

      Trong niềm vui chiến thắng, niềm vui lớn như thế không thể không chia sẻ với người bạn đồng chí đồng tâm lại là bạn thơ tri kỉ tri âm. Vì thế, Bác hạ câu kết "Tư công tức cảnh tặng tân thi". Cảm hứng thơ ở đây là sự hòa quyện của tình bạn, tình yêu đời, yêu thiên nhiên, yêu mùa Xuân với lòng yêu nước nồng nàn và niềm vui cách mạng là những tình cảm đẹp, cao quý lại được biểu hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật đẹp vừa mới mẻ, vừa có phong vị truyền thống, có sức hấp dẫn, động viên chiến đấu với mọi đối tượng công chúng nhất là với các vị cao tuổi, đúng là "thoái lỗ thi" (thơ đuổi giặc) như cụ Bùi đã sâu sắc cảm nhận. Thơ đuổi giặc ấy lại là bài thơ trữ tình đẹp nhất, một bài thơ Xuân thể hiện vẻ đẹp phong phú của một tâm hồn thơ độc đáo, trác tuyệt Hồ Chí Minh.
                                                                           Xuân Tân Mão, 2011

 

Tác giả BTT sưu tâm - giới thiệu